Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư liệu về Phạm Tu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư liệu về Phạm Tu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2011

KHẢO SÁT THÊM VỀ MIẾU VÀ ĐÌNH THỜ LONG BIÊN HẦU PHẠM TU Ở THANH LIỆT, THANH TRÌ, HÀ NỘI

TRẦN LÊ SÁNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Ngày 20 tháng 7 năm Đinh Sửu, tức ngày 22 tháng 8 năm 1997 là ngày giỗ lần thứ 1452 năm của vị danh tướng Long Biên hầu Phạm Tu đời vua Lý Nam Đế.
Cụ Phạm Tu người thôn Vực Mụ, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Thân phụ là cụ Phạm Thiều, thân mẫu là cụ Lý Thị Trạch.
Cụ Phạm Tu sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn hóa:
Thư thảo tinh điền, thánh đức uông hàm gia thế đại;
Bút hoa bảo cáo, thần uy hiển ứng quốc từ tôn.
Dịch:
Sách thảo nghĩa sâu, thánh đức bao dung gia thế lớn;
Bút hoa lời báu, thần uy hiển ứng quốc từ tôn.
(Câu đối và bản dịch ở Miếu Vực)
Thần tích chép rằng, ngày 9 tháng Giêng năm Ất Mão (475), bà Lý nằm mộng thấy thần Tây Hồ thay trời xuống ban cho quý tử. Ngày rằm bà lại thấy ánh sáng đầy nhà, có con bạch hoa xà (điềm báo có võ tài hướng Tây xuất hiện) hóa thành đóa sen trắng (điềm báo văn tài hướng Tây xuất hiện) lượn đến, bà Lý đỡ lấy và có thai.
Ngày 12 tháng 3 năm Bính Thìn (476), bà Lý sinh con trai; lúc sinh, mùi hương thơm tỏa đầy nhà. Ông bà đặt tên cho con là Phạm Đô Tu. Cậu Tu phương phi, tuấn tú, học giỏi, đàn hát hay và là đô vật nổi tiếng trong vùng. Đến nay, lò vật Quỳnh Đô vẫn là lò vật nổi tiếng.
Cuối năm Tân Dậu, tức vào tháng 1 năm 542, Giám quân ở châu Cửu Đức (vùng Hà Tĩnh ngày nay) dấy binh khởi nghĩa, chống lại ách đô hộ nhà Lương.
Viên Thứ sử cai trị nước ta lúc bấy giờ là Tiêu Tư. Tiêu “vì hà khắc tàn bạo mà mất lòng người” (Đại Việt sử ký toàn thư). Trong đêm dài Bắc thuộc, cuộc khởi nghĩa của Giám quân Lý Bôn giống như bó đuốc rực sáng soi đường, nhân dân và anh hào khắp nơi đều hướng về, nô nức hưởng ứng. Ở Chu Diên (Đan Phượng, Từ Liêm) có Hào trưởng Triệu Túc (thân phụ vua Triệu Việt Vương sau này); ở Sấu Giá (Yên Sở, Hoài Đức) có Lý Phục Man, lại có người là quan nhà Lương bỏ quan chức chạy về với quân khởi nghĩa như Tinh Thiều..., đều là những bậc anh hùng xuất chúng, kéo quân về giúp. Trong số những vị anh hùng xuất chúng ấy, chúng ta còn phải kể đến vị lão anh hùng Phạm Tu.
Tướng quân Phạm Tu lúc bấy giờ đã 67 tuổi, song tuổi tác không ngăn được nhiệt tình và tài năng xuất chúng của ông. Triệu Túc, Tinh Thiều, Phạm Tu trở thành ba vị lãnh tụ Lý Bôn lãnh đạo. Quân ta đánh đâu thắng đấy. Thứ sử Tiêu Tư phải bỏ chạy về nước. Đất nước ta được giải phóng.
Tháng Giêng năm Giáp Tý (544), vua Lý Nam Đế lên ngôi; đặt tên nước là Vạn Xuân lấy niên hiệu là Thiên Đức, đặt quan chế, v. v… Sau mấy trăm năm phải làm nô lệ, những năm thời vua Lý Nam Đế, nhân dân ta được tự do, đất nước được độc lập… Tiếc thay! Thời gian chỉ ngắn ngủi có bốn năm! Song ý nghĩa lại hết sức to lớn. Ý nghĩa to lớn này thật khó nêu hết được!...
Tư liệu về hành trạng của Tướng quân Phạm Tu, hiện nay tìm được còn rất ít, tuy vậy, những tư liệu đầy giá trị này vẫn cho phép chúng ta khẳng định công lao to lớn của vị Tướng quân họ Phạm đối với đất nước.
Những tư liệu về Tướng quân Phạm Tu, có thể chia làm hai nguồn chính: Nguồn thư tịch, giấy tờ có tính chất quốc gia và nguồn ghi chép, di tích có tính chất truyền thống, địa phương.
Về nguồn thư tịch, giấy tờ có tính chất quốc gia, trước hết phải kể đến quốc sử, đến sắc phong:
Tìm vào quốc sử, chúng ta đọc được ở Kỷ nhà Tiền Lý, sách Đại Việt sử kí toàn thư những đoạn như sau:
“Quý Hợi, năm thứ 3 (543), mùa hạ, tháng Tư, vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua (Lý Nam Đế) sai tướng là Phạm Tu đánh tan ở quận Cửu Đức.
“Giáp Tý, Thiên Đức năm thứ 1 (544), Mùa xuân, tháng Giêng, vua nhân đánh được giặc, tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi, đổi niên hiệu, đặt trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân, là ý mong xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc là Thái phó, bọn Tinh Thiều, Phạm Tu, đều là tướng văn và tướng võ”.
Việt Nam sử lược cũng viết:
“Qua năm Quý Hợi (543) quân Lâm Ấp lại sang quấy phá quận Nhật Nam, Lý Bôn sai tướng là Phạm Tu vào đánh ở Cửu Đức (Hà Tĩnh), người Lâm Ấp thua chạy về nước”.
“Năm Giáp Tý (544) đời nhà Lương bên Tàu, ông Lý Bôn tự xưng là Nam Việt Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, niên hiệu là Thiên Đức rồi phong cho Triệu Túc làm Thái phó, Tinh Thiều làm tướng văn, Phạm Tu làm tướng võ”.
Thiên Nam ngữ lục (thế kỉ XVIII) chép:
Vua cùng tướng quân Phạm Tu,
Vào Khuất Liêu động thác hư lên trời.
Các sử học xưa của nước ta, khi viết quốc sử thường xem kĩ sử Trung Quốc, viết về sử đời Tiền Lý, chắc chắn có tham khảo sử nhà Lương đời Lục triều. Trong đình Ngoài làng Thanh Liệt thờ Tướng quân Phạm Tu làm Thành hoàng, còn đôi câu đối:
Tướng sử Lục triều Lương địch quốc;
Thần bi nhất Phạm Liệt danh hương.
Dịch:
Chống quân Lương thời Lục triều, dũng tướng lừng danh sử chép;
Dòng họ Phạm đất Thanh Liệt, thần võ còn dấu bia truyền.
(Bản dịch của Chí Kiên; bài “Phạm Tu” trong Danh nhân Hà Nội; 1973).
Như vậy, danh tướng Phạm Tu có thể đã được chép trong sử nhà Lương thời Lục triều.
Ngày 18 tháng 7 vừa qua, chúng tôi đã cùng các ông Nguyễn Hữu Tưởng, Vũ Hồng Quân, Nguyễn Xuân Đa là những nhà Hán học và cán bộ địa phương đi thăm lại miếu, đình thờ danh tướng Phạm Tu. Hiện nay, bảo tàng Thanh Liệt còn giữ được 18 đạo sắc phong của các triều về Long Biên hầu Phạm Đô Hồ Đại vương. Gồm:
- Đời Lê Cảnh Hưng 4 đạo.
- Đời Lê Chiêu Thống 1 đạo.
- Đời Tây Sơn, Cảnh Thịnh 2 đạo.
- Đời Nguyễn 11 đạo.
Những tư liệu quốc sử, giấy tờ có tính chất quốc gia nói trên đã giúp cho chúng ta rất nhiều trong việc tìm hiểu về danh tướng Phạm Tu. Ngoài ra, chúng ta được bổ trợ qua nguồn ghi chép, di tích ở địa phương.
Ở Thanh Liệt hiện nay có hai nơi thờ danh tướng Phạm Tu đó là Miếu Vực và Đình Ngoài. Miếu Vực ở xóm Vực. Miếu thờ Long Biên hầu Phạm Đô Hồ Đại vương cùng Thánh phụ Phạm Thiều, Thánh mẫu Lý Thị Trạch.
Bài vị ghi:
“Bản thổ Tối linh Lý triều Long Biên hầu Phạm Đô Hồ Đại Vương”
Trước miếu có đôi câu đối:
Văn tại tư hồ, kinh vĩ lưỡng gian thùy bất hủ;
Đức kỳ thịnh hĩ, hiển vi nhất lý hưởng vu thành.
Dịch:
Văn để dài lâu, ngang dọc hai gian truyền bất hủ;
Đức còn thịnh mãi, tỏ mờ một lẽ lễ chân thành.
(Theo bản dịch trong miếu)
Theo câu đối trên, miếu vốn có hai gian, nay được mở rộng thành ba gian. Danh tướng Phạm Tu sau khi mất, về năm mất, mộ táng, nơi thờ, thực ra còn đôi chỗ vẫn phải tiếp tục tìm hiểu thêm; song quê ông phải là Thanh Liệt, phát hiện đó cần ghi nhận. Nhưng Miếu Vực là nơi thờ Thánh phụ, Thánh mẫu còn đối với đức Thánh Phạm, miếu này chỉ là nơi thờ vọng.
Đình Ngoài ở ngoài đồng, thuộc thôn Trung. Đình có vườn rộng, phía trước đình có hồ lớn, gọi là hồ Tròn. Nghe nói xưa hồ có cánh như hoa sen, điều đó hình như hợp với mộng Thánh mẫu lúc có mang đức Thánh. Bên phải đình có nhà thọ lão, điều đó lại hình như hợp với kiểu dựng điện Vạn Thọ ở triều vua Lý Nam Đế. Trong đình có đôi câu đối gỗ đã có chỗ bong sơn, để trong góc:
Miếu thành khổng yên, chung thủy tam thiên quy thắng địa;
Dân kim thụ tứ, cổn hoa ngũ tự biểu danh hương.
(Miếu thành được yên, sau trước ba lần dời mới về đất đẹp.
Dân nay nhận sắc, huy hoàng năm chữ vua ban tỏ danh làng).
Vậy, hình như đình đã dựng ba lần, lần cuối mới là chỗ hiện nay chăng?
Đình có bốn tấm biển lớn:
Cổ hữu quang (Xưa đã sáng)
Hưu hữu liệt quang (Mất vẫn rực sáng)
Ngọc Đàm Thanh (Ngọc Đàm Thanh)
Vạn cổ linh trường (Muôn thuở anh linh)
Trong đình còn một số đôi câu đối khác như:
Trượng nghĩa cự Lương binh, hách hách tinh trung huyền nhật nguyệt;
Phong hầu minh Lý sử, miên miên thang mộc ấm phần du.
Dịch:
Khởi nghĩa dẹp quân Lương, lẫm liệt tinh trung ngời nhật nguyệt;
Phong hầu ghi sư Lý, vẻ vang thang mộc rạng quê hương.
(Bản dịch của Chí Kiên; bài và sách đã dẫn)
v.. v..
Ngoài ra, đình Ngoài còn Thần tích chép sự tích của Thành hoàng Phạm Đô Hồ Đại vương. Theo Thần tích, tháng 6 năm Ất Sửu (545), tướng Lương là Trần Bá Tiên đánh Chu Diên, Tướng quân Phạm Đô Hồ chống giặc và tử trận; đó là ngày 20 tháng 7 năm Ất Sửu. Sau khi mất, ông được vua Lý Nam Đế phong là Long Biên hầu, ban thụy là Đô Hồ, sắc phong làm Thành hoàng bản cảnh, ban cho bản trang là ấp thang mộc, được miễn sưu dịch; lại cho một trăm nén bạc để dựng miếu thờ. Từ đó, viết chữ Hán kỵ húy phần bên phải, phần bên trái chữ TU (Tu trong “Tu dưỡng”) .
Theo bà con địa phương cho biết, cho đến nay, người bản địa khi nói gặp chữ TU đều đọc chệch là TO.
Điều đáng lưu ý hơn nữa là trong đình Ngoài còn bức vẽ Thành hoàng Phạm Đô Hồ. Bức vẽ này cỡ khoảng 60 x 80cm; sắc thái Ngài trang nghiêm nhưng phúc hậu, bình dị. Thời gian vẽ được chưa rõ “Bảo Đại thất niên tuế thứ Nhâm Thân bát nguyệt sơ bát nhật”, tức bức vẽ này được vẽ vào ngày 8 tháng 8 năm Nhâm Thân niên hiệu Bảo Đại (1932). Bên phải bức vẽ này có bức vẽ một tướng võ ở võ ban; bên trái có bức vẽ tướng văn ở văn ban. Phía trước có bức tứ bình bốn cô gái đang đánh đàn, thổi sáo. Các bức vẽ trên gợi lên ý nghĩ, Tướng quân Phạm Tu tuy là võ tướng, song lại có phong cách văn nhã, dễ gần.
Tướng quân Phạm Tu có đóng góp lớn cho đất nước, cho Hà Nội như vậy được sử sách đánh giá cao và nhân dân quý mến như vậy thế mà, cho đến nay, chưa một đường, một phố nào ở Hà Nội gắn biển mang tên vị danh nhân này. Vậy thì, việc này nên là việc sớm được lưu ý thỏa đáng chăng? Ngoài ra, khi con đường lớn chạy qua Thanh Liệt được làm, cả một sân trước rộng của đền thờ cụ Chu Văn An bị bới làm đường; nếu nay đường này muốn mở rộng nữa, đền thờ cụ Chu và cả miếu thờ cụ Phạm Tu chỉ cần “tiện” một chút, “lợi” một chút là có thể bị tổn hại nhiều. Văn hóa bao hàm một nghĩa rất rộng, trong đó kể cả việc làm đường, xây dựng…; nhưng có lẽ đừng bao giờ nên coi việc dời bỏ, hủy bỏ di tích lịch sử là việc làm có văn hóa.
Theo Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr. 524-532)

CÂU CA DAO VỀ PHẠM TU

231. Sông Tô nước chảy quanh co
Phạm Công hiển hóa, âm phò quốc vương.
Theo phần 4: Ca dao, trong cuốn Thăng Long Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ Nxb. Hà Nội-2002 do Giang Quân sưu tầm, biên soạn. (In lần thứ hai có bổ sung, sửa chữa)
Với chú thích: 231-Phạm Công là Phạm Tu, võ tướng người thôn Văn, xã Thanh Liệt, h. Thanh Trì, giúp Lý Bí khởi nghĩa chống quân xâm lược Lương (TK 6) có đền thờ ở làng.
Nguồn tin: e-cadao.com

PHẠM TU (sinh 476, mất 545 hay 548)

Vũ Tuân Sán
Trong cuộc đấu tranh bền bỉ và lâu dài suốt mười thế kỷ (từ đầu công nguyên cho đến đầu thế kỷ X) của dân tộc ta chống các tập đoàn xâm lược nước ngoài để giành quyền tự chủ, cuộc khởi nghĩa do Lý Bí lãnh đạo đầu năm 542 là một phong trào có quy mô tương đối rộng lớn. Trong bài Việt sử tổng luận, nhà sử học Lê Tung đã đánh giá cuộc nổi dậy như sau: “Phía Bắc đuổi Tiêu Tư, phía Nam dẹp Lâm Ấp, dựng tên nước, chính ngôi tôn, đặt trăm quan, định niên hiệu, có đại lược về quy hoạch của đế vương”. Để thực hiện được sự nghiệp trên, Lý Bí đã có những cộng tác có tài đức: Triệu Túc làm Thái phó, Phạm Tu làm tướng võ, Tinh Thiều làm tướng văn. Về ba danh nhân này, chính sử không cho biết rõ quê quán ở đâu. Việc điều tra gần đây về lịch sử địa phương cho phép bổ khuyết một phần vào sự thiếu sót đó. Hà Nội có thể tự hào là quê hương của tướng Phạm Tu, vốn người làng Thanh Liệt, huyện Thanh Trì.
Theo thần phả còn giữ được ở địa phương, Phạm Tu sinh năm Bính Thìn (476) vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Cuối năm Tân Dậu (tháng chạp âm lịch tức tháng 1 năm 542) Lý Bí dấy quân chống tên thứ sử Tiêu Tư tham tàn. Cuộc khởi nghĩa đã liên kết được các hào kiệt trong nước. Phạm Tu lúc đó đã 66 tuổi, mặc dù tuổi cao cũng vẫn hăng hái đem binh mã đến giúp và đánh đuổi họ Tiêu khiến hắn phải trốn chạy về Quảng Châu. Nghĩa quân đánh chiếm được thành Long Biên và gấp rút chuẩn bị đối phó với sự phản công của quân giặc. Quả nhiên đầu năm 543, quân Lương lại kéo sang xâm lược, chúng tập trung tướng tá quân sĩ tại bán đảo Hợp Phố (thời kỳ đó vẫn thuộc Châu Giao, tức gắn liền với địa bàn nước ta). Lý Bí đã chủ động đem quân sang tấn công và chiến thắng lớn, tiêu diệt gần hết toán quân xâm lăng.
Tháng 5 năm 543, quân Lâm Ấp ở phương Nam lợi dụng những khó khăn của ta trong việc dẹp quân Lương, đã tiến ra xâm phạm bờ cõi, tiến ra đánh phá miền Đức Châu (Hà Tĩnh ngày nay), Phạm Tu được lệnh đem quân chống lại và đã diệt gọn quân giặc, ổn định được miền biên giới phương Nam. Chiến thắng trên tạo điều kiện cho Lý Bí đầu năm sau (tháng 2 năm 544) chính thức lên ngôi vua, tự xưng là Nam Việt Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân.
Ba năm sau (545) quân phong kiến nhà Lương tổ chức lại cuộc chinh phục, cử Dương Phiêu làm thứ sử và Trần Bá Tiên ở Chu Diên, bị thua, bèn lui về cửa sông Tô Lịch (khoảng phố Chợ Gạo ở nội thành Hà Nội hiện nay) dựng thành luỹ để chống lại quân giặc. Tại đây quân của Lý Nam Đế đã chiến đấu rất anh dũng chống lại quân Trần Bá Tiên đông mạnh gấp bội, Vì lực lượng quá chênh lệch, quân ta phải rút lui. Chính Phạm Tu đã hy sinh trong trận chiến đấu ác liệt này. Theo thần phả địa phương ông mất vào ngày 20 tháng 7 năm Ất Sửu (545) “trong vòng chiến đấu, xoay cuộc tang thương, Đại vương phút chốc hiển linh thần hoá”. Sử chí không chép việc Phạm Tu hy sinh vào năm nào. Tập diễn ca Thiên Nam ngữ lục viết vào thế kỷ thứ XVIII có ghi cái chết của vị tướng họ Phạm nhưng thời điểm mãi ba năm sau, khi Lý Nam Đế rút về Gia Ninh (Việt Trì) đóng ở hồ Điển Triệt rồi bị quân Trần Bá Tiên tiến đánh, nghĩa quân lại lui về động Khuất Lão và Phạm Tu đã cùng hy sinh với Lý Nam Đế tại ngay động này (tháng 4 năm 548).
Phục Man trấn thủ cõi xa
Nghe tin Nam Đế phải thua Triệt Hồ
Vua cùng tướng quân Phạm Tu
Vào Khuất Liêu động thác hư lên trời
Dù sao thì hai tài liệu trên đều thống nhất ở chỗ Phạm Tu đã tử tiết trong khi chiến đấu chống quân xâm lược. Theo thần tích và truyền thuyết địa phương, ông được phong là Biên Hầu, và có tên thuỵ là Đô Hồ vì tương truyền thần Tây Hồ đã ứng điềm lành khi ông ra đời. Quê hương ông chính là thôn Văn thuộc xã Thanh Liệt ngày nay, tức cũng là quê của Chu Văn An nhà nho nổi tiếng cuối triều Trần sau này. Vua còn ra lệnh cho làng phải dựng đình phụng sự và cả xã Thanh Liệt được công nhận là thang mộc ấp, tức là được miễn trừ sưu dịch để tạo điều kiện cho việc phụng thờ. Ngôi đình chiếm một khu khá đẹp ở cánh đồng thôn Trung, xã Thanh Liệt hiện nay. Trong nội cung hiện còn bức tranh vẽ chân dung ông, ngoài mấy bức tranh khác vẽ những bộ hạ của ông. Theo các phụ lão địa phương, những bức tranh này vẫn truyền lại từ lâu đời, đến năm Nhâm Thân (1932) mới tô họa lại như đã được ghi trên bức tranh treo trong khám. Còn khá nhiều câu đối nhắc lại sự nghiệp đánh giặc cứu nước của ông, tỉ dụ như câu:
Trượng nghĩa cự Lương binh, hách hách tư trung huyền nhật nguyệt
Phong hầu mình Lý sử, miên miên thang mộc ấm phần du
(Khởi nghĩa dẹp quân Lương, lẫm liệt tinh trung ngời nhật nguyệt
Phong hầu sáng sử Lý, vẻ vang thang mộc rạng quê hương).
Hoặc câu:
Tướng sử lục triều, Lương địch quốc.
Thần bi nhất Phạm, liệt danh hương
(Chống quân Lương mức đối địch thời Lục triều, dũng tướng lừng danh sử chép
Dòng họ Phạm quê lừng danh đất Thanh Liệt, thần võ còn dấu bia truyền).

Nguồn tin: Hà Nội Portal, cuốn “Hà Nội xưa & nay”
Đăng trên: http://www.thanglonghanoi.gov.vn/
Ban chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long

PHẠM TU (476-545)

(Theo cuốn “Họ Phạm trong cộng đồng dân Việt” ấn hành nội tộc năm 2007 của Ban liên lạc họ Phạm Việt Nam)
Phạm Tu sinh ngày 10 tháng 3 năm Bính Thìn (tức 19-4-476) tại trang Quang Liệt, nay là xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Song thân của Người là Phạm Thiều và Lý Thị Trạch, vốn là những người đức độ có tiếng trong vùng.
Người là danh nhân họ Phạm xuất hiện sớm nhất trong chính sử: bộ sách “Đại Việt Sử ký Toàn thư” có hai chỗ viết về Người; bộ sách “Biên niên Lịch sử cổ trung đại” có ba lần nhắc đến tên Người…
Từ nhỏ, Người đã là một trang thiếu niên phương phi, tuấn tú; chăm đọc sách, học giỏi, đàn hát hay... Lớn lên lại năng luyện võ nghệ, là một đô vật nổi tiếng, thường được gọi là Đô Tu, rồi đã thật sự trở thành một hào kiệt có uy tín lớn trong vùng.
Sinh ra giữa thời “hơn một nghìn năm Bắc thuộc” (từ năm-179 đến năm +905) nên suốt cuộc đời, Người ẩn dật, nung nấu ý chí cứu nước; lấy biệt hiệu là Cảm Ứng cư sĩ, từng khuyên dân “cửu niên tam tích” -“cửu niên” với nghĩa là lâu dài, nhiều năm, tích trữ ba thứ: lương thực, quần áo, vũ khí … để luôn sẵn sàng, khi thời cơ đến thì vùng lên giành lại non sông.
Năm 541, đã bước sang tuổi 66, Phạm Tu vẫn tích cực hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Lý Bí (503-548) (còn gọi là Lý Bôn). Người đã chủ động tập hợp trai tráng trong vùng, lập thành một đội quân mạnh, đánh chiếm thành Long Biên (vùng Bắc Ninh ngày nay), thủ phủ của chính quyền đô hộ.
Khi dân Lâm Ấp ở phía Nam nước ta, lợi dụng tình thế, tràn sang nước ta cướp bóc, Lý Bí đã cử Người đem quân vào đánh dẹp. Mùa hè năm 543, Người đã đánh tan địch ngay ở Cửu Đức (vùng Hà Tĩnh ngày nay). Trong chiến cuộc này, dưới trướng của Phạm Tu, có cả tướng quân Phục Man, người làng Giá (Yên Sở, Đan Phượng)-sau được thờ làm Thành hoàng làng ở đấy.
Chiến thắng trở về, Người càng được khẳng định là vị tướng tài giỏi nhất trong nghĩa quân và cũng là người cao tuổi nhất. Còn vị tướng trẻ Phục Man được mang “quốc tính” (mang họ Lý-họ Nhà Vua) và trở thành Phò mã.
Năm 544, khi thành lập nước Vạn Xuân, một nhà nước có tổ chức đầu tiên ở nước ta, Người được Lý Nam Đế giao trọng trách làm Tả tướng, đứng đầu Ban Võ-tương đương Bộ trưởng Quốc phòng-Tổng Tư lệnh ngày nay.
Khi Nhà Lương (thuộc Nam triều thời Nam Bắc triều của Trung Quốc (420-589) đã huy động tổng lực của cả 5 châu xung quanh nước ta là: Việt-La-An-Ái-Định sang đàn áp Giao Châu, Phạm Tu đã giúp Lý Nam Đế huy động tới 3 vạn quân ra chống cự (trong khi toàn dân ở Giao Chỉ lúc đó mới có hơn 70 vạn nhân khẩu, cả trẻ già trai gái). Và trong cuộc kháng chiến lực lượng hai bên quá chênh lệch này, ngày 20 tháng 7 năm Ất Sửu (tức 13-8-545), Phạm Tu đã anh dũng hy sinh trong trận chiến giữ thành Tống Bình mới cấp tốc xây dựng bên cửa sông Tô Lịch (phía sau Chợ Đồng Xuân Hà Nội ngày nay), để chặn đại quân địch lại, cho Lý Nam Đế cùng Triệu Quang Phục, bảo toàn lực lượng, tạm rút lên trung du rồi vòng về vùng đầm lầy Dạ Trạch, để xây dựng căn cứ địa chiến đấu lâu dài, nhằm đi đến thắng lợi cuối cùng. Triều đình Nhà Tiền Lý đã giữ vững nền độc lập của Nhà nước Vạn Xuân được thêm gần sáu chục năm nữa (545-602).
Sau khi Lão tướng Phạm Tu hy sinh, Nhà Vua vô cùng thương tiếc, đã cho Thái giám về tận quê hương, truy phong tước Long Biên Hầu (vì chính Người có công đầu trong hạ thành Long Biên, thủ phủ của địch); ban tên thụy là Đô Hồ; sắc cho quê hương là thang mộc ấp, được miễn sưu sai tạp dịch, để thờ Người làm “bản cảnh thành hoàng” lưu truyền mãi mãi.
Các đời sau: Đinh, Lê, Lý, Trần, rồi Hậu Lê, Lê Trung Hưng, Tây Sơn và Nguyễn, đều có sắc phong là Thượng Đẳng Thần, Đô Hồ Đại Thần hay Đô Hồ Đại Vương. Hiện nay ở đây còn lưu giữ được 18 Sắc phong từ thời Cảnh Hưng nhà Lê, qua Cảnh Thịnh, Tây Sơn đến Khải Định, nhà Nguyễn.
Hàng năm, cứ đến 20 tháng Bảy âm lịch-ngày kỷ niệm Trưởng ban Võ của Nhà nước Vạn Xuân, Tả tướng quân Phạm Tu hy sinh để bảo vệ thành Tống Bình (Hà Nội ngày nay), nhân dân địa phương và các vùng lân cận, các đoàn đại diện họ Phạm trong cả nước về Đình Ngoài xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội để dâng hương tưởng niệm Lão anh hùng của dân tộc, Thượng thủy tổ của họ Phạm Việt Nam-Đô Hồ Đại vương Phạm Tu.

MỘT SỐ SỰ KIỆN VÀ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU GẦN ĐÂY VỀ DANH TƯỚNG PHẠM TU

(Theo cuốn “Họ Phạm trong cộng đồng dân Việt” ấn hành nội tộc năm 2007 của Ban liên lạc họ Phạm Việt Nam)
Ngày 20 tháng 7 năm Đinh Sửu (1997), nhân ngày lễ hội tưởng niệm hàng năm tại địa phương, Ban Liên lạc họ Phạm toàn quốc đã trân trọng đề nghị suy tôn Phạm Tu làm Thượng Thuỷ tổ họ Phạm Việt Nam. Đề xuất này đã được mọi người tán thành.
Ngày 08-9-1998, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã tổ chức HỘI THẢO TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN PHẠM TU tại Hội trường Bảo tàng Cách mạng ở Hà Nội. Trong Hội thảo có năm báo cáo khoa học của:
-Học giả Vũ Tuân Sán, Bài viết đăng báo Hà Nội mới ngày 28/7/1969
-Phó Giáo sư Sử học Lê Văn Lan,
-Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc (bài đã đăng báo Nhân dân 21-8-1997),
-Nhà sử học Trần Lê Sáng (bài đã đăng tạp chí Xưa & Nay, số tháng 8-1997),
-Trưởng Ban Lịch sử xã Thanh Liệt, Hà Nội: Nguyễn Đăng Thưởng
Cùng một bản thông báo của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng (thành viên Ban Tư liệu họ Phạm Việt Nam) nói về các danh nhân và các chi họ Phạm, hậu duệ của Phạm Tu, được biết cho đến lúc đó.
Hội thảo còn có phát biểu của ông Phạm Minh Đức (đã từng là Phó Giám đốc Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Thái Bình) và Cử nhân Phạm Quốc Chử, giáo viên trường THPT Tây Tiến, Tiền Hải, Thái Bình. Cuộc Hội thảo diễn ra rất sôi nổi, do Tổng Thư kí Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam-Dương Trung Quốc, khai mạc, dắt dẫn chương trình và phát biểu bế mạc. Chính ông đã đề xuất ý kiến: Thủ đô Hà Nội nên có một đường phố mang tên Phạm Tu.
- Ngay sau Hội thảo, PGS. TS. Phạm Hồng đã tập hợp các thông tin trong Hội thảo, biên tập thành tài liệu “DANH TƯỚNG PHẠM TU-... Thượng thuỷ Tổ họ Phạm” (20 trang 14, 5 x 20, 4 cm xuất bản lần đầu năm 1998) phát hành trong nội tộc vào những dịp giỗ Người, 20-7 âm lịch hàng năm.
- 5 báo cáo khoa học trong Hội thảo đã được Phó Giám đốc Trung tâm UNESCO Thông tin Tư liệu Văn hoá và Lịch sử Phạm Đình Nhân, tập hợp cùng những tư liệu về họ Phạm trong lịch sử, do bản thân sưu tầm, để biên soạn thành cuốn sách: “DANH TƯỚNG PHẠM TU và HỌ PHẠM TRONG LỊCH SỬ” do Nxb. Văn hóa Thông tin xuất bản, Hà Nội-1999 (392 trang 14, 5 x 20, 4 cm-phần Họ Phạm trong lịch sử chiếm tới 336 trang, còn phần Phạm Tu có 56 trang).
- Năm 2003, Thượng tá Kĩ sư Phạm Hồng Vũ, chuyên gia Hán-Nôm, Phó Tổng Thư kí của Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam đã dày công sưu tầm thêm các tư liệu quốc ngữ và Hán Nôm, dịch và soạn thành cuốn sách chuyên đề: “DANH TƯỚNG PHẠM TU (476-545) Khai quốc công thần nhà Tiền Lý, Thượng Thuỷ tổ họ Phạm Việt Nam”
Sách dày 154 trang khổ 13 x 19 cm do Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội xuất bản, Hà Nội-2003.

DANH TƯỚNG PHẠM TU (476-545), VỊ KHAI QUỐC CÔNG THẦN TRIỀU TIỀN LÝ

PHẠM ĐÌNH NHÂN
Bộ chính sử lớn của nước ta, cuốn Đại Việt sử ký toàn thư đã để lại những dòng ghi về vị tướng tài họ Phạm như sau:
“Mùa hạ, tháng 4 năm Quý Hợi (543) vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua sai tướng Phạm Tu đánh tan giặc ở quận Cửu Đức” và:
“Mùa Xuân, tháng Giêng năm Giáp Tý (544), vua lên ngôi, xưng là Nam Việt Đế, lấy niên hiệu là Thiên Đức, đặt trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân là ý mong xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc làm Thái Phó, lấy Tinh Thiều, Phạm Tu làm tướng văn, tướng võ”.
Cuốn Việt Nam sử lược cũng viết:
“Qua năm Quý Hợi (543) quân Lâm Ấp lại sang quấy phá quận Nhật Nam, Lý Bôn sai tướng là Phạm Tu vào đánh ở Cửu Đức (Hà Tĩnh), người Lâm Ấp thua chạy về nước.”
Đó là nói về những cứ liệu trong quốc sử, nhưng còn nguồn thư tịch khác ngoài quốc sử là các đạo sắc phong của các triều đại từ triều Lê đến triều Nguyễn phong cho Long Biên hầu Đô Hồ Đại vương Phạm Tu, thì ở Thanh Liệt cho đến nay còn giữ được 18 đạo sắc phong quan trọng.
Những tư liệu quốc sử, sắc phong là những thư tịch chính thống đã giúp rất nhiều trong việc tìm hiểu danh tướng Phạm Tu. Ngoài ra còn khá nhiều nguồn tài liệu ghi chép mà chủ yếu là tại đền thờ nơi quê hương danh nhân ở xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Nơi đây có rất nhiều tư liệu như thần tích, bài vị, câu đối v.. v.. nói về Người.
Theo thần tích, Phạm Tu người làng Thanh Liệt. Nơi sinh ra Phạm Tu, xưa kia là một xóm bãi vải tiến vua nằm bên sông Tô Lịch thuộc thôn Văn Trì, làng Quang Liệt, huyện Thanh Đàm trấn Sơn Nam, nay là xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Phạm Tu sinh ngày 10 tháng 3 năm Bính Thìn (năm 476), thân phụ là Phạm Thiều, thân mẫu là Lý Thị Trạch. Khi lớn lên, Phạm Tu phương phi, tuấn tú, học giỏi, tư chất thông minh, hay đọc sách nhất là binh thư yếu lược. Người vóc dáng rất khoẻ và trở thành đô vật nổi tiếng trong vùng, thường được gọi là Phạm Đô Tu.
Cuối năm Tân Dậu (tháng Giêng năm 542), Giám quân châu Cửu Đức là Lý Bôn (hay còn gọi là Lý Bí) dấy binh khởi nghĩa, chống lại quân đô hộ nhà Lương và viên thứ sử cai trị nước ta bấy giờ là Tiêu Tư nổi tiếng tàn ác. Cuộc khởi nghĩa của Lý Bôn được nhân dân và anh hào khắp nơi ủng hộ nô nức kéo về giúp sức. Ở Đan Phượng (Hà Tây) có hào trưởng Triệu Túc, ở Sấu Giá, Hoài Đức (Hà Tây) có Lý Phục Man. Lại có cả Tinh Thiều nguyên là quan cai trị của Nhà Lương, bỏ quan chức chạy về với quân khởi nghĩa. Trong số những vị anh hùng tham gia cùng Lý Bôn khởi nghĩa phải kể đến võ tướng Phạm Tu.
Năm ấy Phạm Tu đã 67 tuổi, song tuổi tác không ngăn được lòng yêu nước đánh đuổi ngoại xâm. Phạm Tu đã tập hợp binh mã, tổ chức quân khởi nghĩa và trở thành một võ tướng chủ chốt của quân khởi nghĩa. Ông cùng với Triệu Túc và Tinh Thiều, trở thành ba vị lãnh đạo chính trong bộ tham mưu của cuộc kháng chiến chống quân Lương do Lý Bôn lãnh đạo. Quân khởi nghĩa đánh đâu thắng đấy. Thứ sử Tiêu Tư bỏ chạy về nước. Nghĩa quân chiếm đóng thành Long Biên và chuẩn bị đối phó với cuộc xâm lăng mới của địch. Năm sau, năm 543, Nhà Lương lại tập trung quân chuẩn bị đánh chiếm nước ta. Lý Bôn chủ động đem quân tấn công, tiêu diệt được gần hết đoàn quân xâm lược này. Cũng trong thời gian đó, vua Lâm Ấp (Chiêm Thành) lợi dụng tình hình quân khởi nghĩa đang đương đầu với phương Bắc, đã đem quân đánh phá vùng Cửu Đức (Hà Tĩnh ngày nay) vào tháng 5 năm 543. Lý Bí cử danh tướng Phạm Tu đưa quân đi chống lại và cuối cùng đã tiêu diệt gọn quân Lâm Ấp, ổn định biên giới phía Nam. Những chiến thắng trên đã đưa Lý Bí chính thức lên ngôi vua vào đầu năm 544, lấy danh hiệu là Nam Việt Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội, lấy Triệu Túc làm Thái phó, Tinh Thiều đứng đầu Ban Văn, Phạm Tu đứng đầu Ban Võ của triều đình trở thành vị khai quốc công thần Nhà Tiền Lý.
Tháng 6 năm Ất Sửu (năm 545), Nhà Lương lại tổ chức xâm lược nước ta một lần nữa. Quân Lương cử hai tướng thiện chiến là Dương Phiêu và Trần Bá Tiên chỉ huy đại quân theo đường biển tiến sang nước ta. Lý Bí chống cự ở Chu Diên (vùng duyên hải Thái Bình, Nam Định) không nổi, lui về củng cố thành trì ở cửa sông Tô Lịch (nay là đoạn phố Chợ Gạo, Hà Nội). Võ tướng Phạm Tu giữ cửa sông Tô Lịch một thời gian, nhưng vì tuổi cao sức yếu, quân giặc lại đông, nên ông đã hy sinh anh dũng vào ngày 20 tháng 7 năm ấy. Lý Nam Đế rút quân vào Gia Ninh đóng đồn ở hồ Điển Triệt, luyện tập binh mã để sau khôi phục lại.
Xét công trạng của Phạm Tu, Lý Nam Đế ban tặng phong Phạm Tu là Long Biên hầu, đặt thụy là Đô Hồ, phong làm Bản cảnh thành hoàng, sắc cho bản hương là Thang Mộc ấp, sưu sai tạp dịch đều được miễn trừ, ban 100 nén bạc lập miếu phụng sự lưu truyền mãi mãi, đó là làng Thanh Liệt, nơi sinh ra danh tướng Phạm Tu.
Hiện nay ở xã Thanh Liệt có hai nơi thờ danh tướng Phạm Tu, đó là Miếu Vực và Đình Ngoài. Miếu Vực nằm ở xóm Vực, miếu thờ Long Biên hầu Phạm Đô Hồ Đại vương cùng Thánh phụ Phạm Thiều và thánh mẫu Lý Thị Trạch.
Đình Ngoài ở ngoài đồng thuộc thôn Trung, Đình có hồ lớn gọi là hồ Tròn, nơi thờ chính của Đô Hồ Đại vương Phạm Tu là thành hoàng làng Thanh Liệt, nơi mà nhiều năm gần đây dân làng Thanh Liệt và bà con họ Phạm trên khắp cả nước thường về dự tế lễ nhân ngày giỗ của Người vào ngày 20 tháng 7 âm lịch hàng năm.
Tháng 10 năm 1996, cuộc họp mặt toàn quốc lần thứ Nhất của các dòng họ Phạm đã thành lập Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam tại chùa Quán Sứ. Ngay từ khi thành lập Ban Liên lạc đã suy tôn danh tướng Phạm Tu là Thượng thuỷ tổ của các dòng họ Phạm Việt Nam vì Người là vị họ Phạm xuất hiện đầu tiên trong chính sử và có nhiều công lao cho đất nước. Và từ khi đó đến nay hàng năm bà con họ Phạm ở nhiều địa phương trong cả nước thường về dự giỗ Tổ Phạm Tu tại đền thờ của Người ở làng Thanh Liệt.
Năm nay, nhân ngày giỗ lần thứ 1461 của Thượng thuỷ tổ Phạm Tu và nhân kỷ niệm 10 năm thành lập Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam, bà con chúng ta lại một lần nữa về quê hương của Thuỷ tổ tại Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội để dự lễ tế Tổ, dâng nén hương thơm nhớ về tổ tiên, nhớ về vị tiền bối đã làm rạng danh dòng họ Phạm và cũng là về dự Cuộc họp mặt dòng họ Phạm lần thứ 10 ở ngay tại quê hương Người.
Nguồn tin: www.hophamvietnam.org